Hai đoạn bờ sông cùng thành phố. Đoạn thứ nhất là tường kè bê tông thẳng đứng, lan can cao, sau lan can là đường ô tô bốn làn. Người ta chỉ đi ngang, không dừng. Đoạn thứ hai là bậc cấp thoải xuống nước, có cây ở bậc trên cùng, mùa khô bậc dưới lộ ra thành chỗ ngồi câu cá, mùa lũ nước ngập tới bậc giữa. Chiều nào cũng có người ngồi.
Cùng dòng sông, cùng yêu cầu chống lũ. Khác biệt nằm ở cách thiết kế mép nước, dải hẹp vài chục mét nơi đô thị gặp mặt nước.
Đọc mực nước trước khi vẽ
Mọi thiết kế bờ bắt đầu từ các cao độ nước. Tối thiểu cần biết:
- Mực nước thấp mùa khô: giới hạn dưới của phần có thể sử dụng.
- Mực nước trung bình: mức phổ biến nhất trong năm.
- Mực nước cao thường xuyên: mức đạt tới gần như mỗi năm, ở vùng triều là đỉnh triều cường.
- Mực nước lũ thiết kế: mức dùng để xác định cao độ đê, kè theo tần suất quy định.
Số liệu này lấy từ trạm thuỷ văn gần nhất và hồ sơ công trình thuỷ lợi của khu vực. Ở vùng ảnh hưởng triều như đồng bằng sông Cửu Long hay các sông ở TP.HCM, cần xét cả chu kỳ triều trong ngày và triều cường đầu tháng.
Khoảng cách giữa mực nước thấp và mực lũ thiết kế chính là vùng thiết kế linh hoạt: nơi không thể xây công trình cố định nhạy cảm nhưng hoàn toàn có thể dùng cho người.
Bốn kiểu mép nước
| Kiểu | Mô tả | Ưu điểm | Hạn chế |
|---|---|---|---|
| Kè đứng | Tường bê tông hoặc đá thẳng đứng | Tiết kiệm đất, ổn định | Cắt tiếp cận nước, không có sinh cảnh |
| Kè bậc | Bậc cấp xuống nước, có chiếu nghỉ | Người dân chạm tới nước, ngồi được | Cần nhiều đất hơn, bùn đọng sau lũ |
| Bờ mềm | Mái dốc có cỏ, cây chịu ngập | Rẻ, đẹp, có sinh cảnh | Cần đất rộng, dễ sạt nếu dòng chảy mạnh |
| Bờ hỗn hợp | Kè thấp + mái dốc + cây, nhiều tầng cao độ | Cân bằng an toàn và sử dụng | Thiết kế và bảo trì phức tạp hơn |
Không có kiểu nào đúng cho mọi nơi. Đoạn dòng chảy xiết, sát nhà dân, cần kè cứng. Đoạn có đất rộng, dòng chảy chậm, có thể làm bờ mềm. Một tuyến bờ sông tốt thường thay đổi kiểu mép theo từng đoạn.
Thiết kế theo nhiều tầng cao độ
Ý tưởng then chốt: chia bờ thành các tầng tương ứng với tần suất ngập.
- Tầng thấp (ngập nhiều lần mỗi năm): bậc ngồi, bến nhỏ, vật liệu chịu nước như đá, bê tông, cây chịu ngập. Không đặt đèn, ghế gỗ, thiết bị điện.
- Tầng giữa (ngập vài năm một lần): lối đi bộ, đạp xe ven sông, cỏ, cây lớn chịu ngập ngắn ngày.
- Tầng cao (trên mực lũ thiết kế): công trình dịch vụ, nhà vệ sinh, chiếu sáng, đường giao thông.
Khi nước rút, tầng thấp cần được dọn bùn. Thiết kế nên có độ dốc để nước tự thoát, bề mặt dễ xịt rửa, không có góc chết đọng bùn.
Liên tục và tiếp cận
Một tuyến ven sông chỉ có giá trị khi đi liên tục được. Các điểm đứt gãy thường gặp: một khu đất tư nhân rào sát mép nước, một cửa cống lớn, một cầu thấp không có lối chui. Trong đồ án, vẽ riêng bản đồ “độ liên tục” của tuyến ven nước và đề xuất giải pháp cho từng điểm đứt.
Tiếp cận từ phía đô thị cũng quan trọng. Nếu giữa khu dân cư và bờ sông là đường lớn không có điểm sang đường, người dân sẽ không ra sông. Mỗi 200–300 m nên có một lối xuống nước từ phố.
Sinh thái mép nước
Mép nước là nơi giao thoa sinh cảnh cạn và nước, có giá trị sinh thái cao. Bờ có thảm thực vật chịu ngập giúp lọc bớt chất ô nhiễm từ dòng chảy mặt, tạo nơi trú cho cá con và chim, giảm xói lở. Nên chọn cây bản địa quen với chế độ ngập của khu vực, hỏi ý kiến chuyên gia thực vật hoặc tham khảo thảm thực vật ở đoạn bờ tự nhiên gần đó.
Hoạt động nào hợp với từng đoạn bờ
Bờ sông dài vài cây số không nên lặp một kiểu hoạt động. Chia theo tính chất khu đô thị phía sau:
- Đoạn qua khu dân cư: lối đi dạo, sân tập thể dục buổi sáng, bậc ngồi hóng mát, chỗ câu cá. Yên tĩnh, chiếu sáng vừa đủ.
- Đoạn qua trung tâm thương mại, du lịch: quảng trường nhỏ sát nước, bến thuyền, ki-ốt ăn uống ở tầng cao, không gian cho sự kiện.
- Đoạn có đất rộng, ít dân: bờ mềm, đầm cây chịu ngập, lối đi bộ đơn giản; ưu tiên sinh thái và chứa nước lũ.
Cách chia này cũng giúp phân kỳ đầu tư: làm trước đoạn qua khu dân cư đông, nơi mỗi đồng chi ra có nhiều người dùng nhất.
Lỗi thường gặp
- Vẽ bờ sông với một mực nước duy nhất, không thể hiện mùa khô và mùa lũ.
- Đặt ghế gỗ, đèn, bảng thông tin ở tầng ngập thường xuyên.
- Đường ô tô chạy sát mép nước, cắt người đi bộ khỏi bờ.
- Lan can cao, kín, che tầm nhìn ra sông với người ngồi.
Áp dụng thực tế: vẽ một mặt cắt bờ sông
- Chọn một đoạn bờ sông hoặc hồ bạn biết. Tìm các mực nước từ nguồn thuỷ văn hoặc hỏi người dân mốc nước cao nhất họ nhớ.
- Vẽ mặt cắt hiện trạng tỷ lệ 1/100, đánh dấu các mực nước bằng đường nét đứt khác màu.
- Vẽ mặt cắt đề xuất với ba tầng cao độ, ghi rõ vật liệu, cây, hoạt động từng tầng.
- Vẽ thêm hai lát cắt “mùa khô” và “mùa lũ” để thấy người dùng ở đâu trong mỗi mùa.
Một bộ mặt cắt thể hiện được sự thay đổi theo mùa luôn cho thấy người thiết kế hiểu dòng sông, và đó là thứ hội đồng tìm kiếm trong mọi đồ án ven nước.
Câu hỏi thường gặp
Thiết kế bờ sông đô thị cần biết những mực nước nào?
Tối thiểu cần mực nước thấp mùa khô, mực nước trung bình, mực nước cao thường xuyên và mực lũ thiết kế. Ở vùng triều cần thêm chu kỳ triều và triều cường.
Kè đứng và kè bậc khác nhau thế nào?
Kè đứng tiết kiệm đất và ổn định nhưng cắt người dân khỏi mặt nước. Kè bậc cần nhiều đất hơn nhưng cho người ngồi và chạm tới nước.
Thiết kế bờ nhiều tầng cao độ là gì?
Là chia bờ thành tầng thấp ngập thường xuyên, tầng giữa ngập hiếm hơn và tầng cao trên mực lũ, mỗi tầng dùng vật liệu và hoạt động phù hợp với tần suất ngập.
Vì sao tuyến đi bộ ven sông hay bị đứt đoạn?
Do đất rào sát mép nước, cửa cống lớn, cầu thấp không có lối đi dưới, hoặc đường lớn cắt ngang. Cần vẽ bản đồ độ liên tục và giải pháp cho từng điểm.
Bờ sông có cây có tác dụng gì?
Thảm thực vật chịu ngập giúp lọc chất ô nhiễm từ dòng chảy mặt, giảm xói lở, tạo sinh cảnh cho cá và chim, đồng thời cho bóng mát.