Trên bản vẽ, một ô đỗ ô tô là hình chữ nhật khoảng 2,5 × 5 m, tức 12,5 m². Sinh viên nhân số chỗ với 12,5 và tưởng đã có diện tích bãi đỗ. Thực tế, khi cộng lối xe chạy, đường dốc, đảo quay đầu, diện tích mỗi chỗ đỗ trên bãi mặt đất thường lên tới khoảng 25–30 m², gấp đôi con số ban đầu. Nhân với vài trăm chỗ, sai số đủ để làm hỏng cả phương án bố trí mặt bằng.
Diện tích thật của một chỗ đỗ
| Dạng | Diện tích mỗi chỗ ô tô, gồm lối đi (tham khảo) | Ghi chú |
|---|---|---|
| Ô đỗ đơn thuần | Khoảng 12–13 m² | Chỉ là hình chữ nhật sơn vạch |
| Bãi mặt đất | Khoảng 25–30 m² | Gồm lối xe chạy, đảo, lối ra vào |
| Nhà xe nhiều tầng | Khoảng 30–35 m² sàn | Thêm dốc, cột, thang, lõi kỹ thuật |
| Tầng hầm | Khoảng 30–40 m² sàn | Cột kết cấu công trình phía trên làm bố trí kém hiệu quả hơn |
| Xe máy | Khoảng 2–3 m² | Tuỳ đỗ vuông góc hay chéo, lối đi rộng hẹp |
Các con số phụ thuộc bố trí (đỗ vuông góc, đỗ chéo 45°, đỗ song song), bề rộng lối đi, hình dạng khu đất. Dùng làm ước lượng ban đầu, rồi vẽ bố trí thật để kiểm tra.
Chi phí: ẩn nhưng không hề nhỏ
Chỗ đỗ trên bãi mặt đất tốn tiền đất. Chỗ đỗ trong nhà xe và tầng hầm tốn tiền xây dựng, và tầng hầm càng sâu chi phí mỗi chỗ càng tăng mạnh vì chống vách, chống thấm, thông gió, bơm nước. Chi phí này gần như luôn được gộp vào giá căn hộ, giá thuê văn phòng, giá hàng hoá, nên người không có xe cũng đang trả tiền cho chỗ đỗ.
Hệ quả cho quy hoạch: mỗi chỗ đỗ bắt buộc là một khoản chi phí bắt buộc. Chỉ tiêu đỗ xe tối thiểu quá cao có thể làm dự án nhà ở giá vừa phải không khả thi, hoặc đẩy công trình lên cao hơn chỉ để gánh tầng hầm.
Chỉ tiêu tối thiểu và tối đa
Nhiều hệ thống quy hoạch quy định số chỗ đỗ tối thiểu theo diện tích sàn hoặc số căn hộ. Cách tiếp cận này đang được nhìn lại ở nhiều thành phố trên thế giới, với ba hướng điều chỉnh:
- Giảm chỉ tiêu tối thiểu ở khu vực gần giao thông công cộng năng lực cao.
- Chuyển sang chỉ tiêu tối đa ở lõi đô thị để hạn chế lưu lượng xe đi vào.
- Cho phép đóng góp thay thế: thay vì tự xây chỗ đỗ, dự án đóng góp vào bãi đỗ chung của khu vực.
Đây là chủ đề chính sách mà mỗi đô thị quyết định theo điều kiện riêng. Người làm quy hoạch cần hiểu các lựa chọn và hệ quả không gian của chúng.
Đỗ xe dùng chung: tiết kiệm lớn nhất
Nhu cầu đỗ của mỗi chức năng đạt đỉnh vào giờ khác nhau:
- Văn phòng: đầy ban ngày ngày thường, trống buổi tối và cuối tuần.
- Nhà ở: đầy ban đêm, vơi một phần ban ngày.
- Thương mại, nhà hàng: đông buổi tối và cuối tuần.
Nếu các chức năng dùng chung một bãi, tổng số chỗ cần thiết nhỏ hơn tổng nhu cầu cộng đơn thuần.
Ví dụ tính
Một công trình hỗn hợp, nếu tính riêng từng chức năng theo chỉ tiêu giả định cần: văn phòng 200 chỗ, nhà ở 150 chỗ, thương mại 100 chỗ. Cộng đơn thuần: 450 chỗ.
Giả định tỷ lệ lấp đầy theo khung giờ (minh họa):
| Khung giờ | Văn phòng | Nhà ở | Thương mại | Tổng chỗ cần |
|---|---|---|---|---|
| 10h ngày thường | 100% = 200 | 50% = 75 | 40% = 40 | 315 |
| 19h ngày thường | 15% = 30 | 90% = 135 | 100% = 100 | 265 |
| 23h | 5% = 10 | 100% = 150 | 20% = 20 | 180 |
| 14h cuối tuần | 10% = 20 | 70% = 105 | 90% = 90 | 215 |
Khung giờ cao nhất cần 315 chỗ. Cộng thêm khoảng 5–10% dự phòng để xe tìm được chỗ trống: khoảng 330–345 chỗ, thay vì 450. Tiết kiệm hơn 100 chỗ, tương đương vài nghìn mét vuông sàn hầm.
Điều kiện để dùng chung được: bãi không chia cố định cho từng chủ, có quản lý, và vị trí thuận tiện cho cả các chức năng.
Bãi đỗ và hình thái đô thị
Bãi đỗ quyết định rất nhiều về mặt phố:
- Bãi mặt đất trước công trình đẩy công trình lùi xa phố, phá vỡ mặt phố liên tục, bắt người đi bộ băng qua bãi.
- Lối vào hầm cắt vỉa hè; nhiều lối vào trên một đoạn phố ngắn làm vỉa hè đứt quãng.
- Tầng đế là nhà xe tạo mặt đứng chết ở tầm mắt người đi bộ; nếu buộc phải làm, nên bọc tầng trệt bằng cửa hàng.
Nguyên tắc thiết kế: đặt bãi đỗ phía sau hoặc dưới công trình, gom lối vào xe về đường phụ, giữ mặt phố chính cho người đi bộ và hoạt động.
Đỗ xe ven đường: tài nguyên bị định giá thấp
Làn đỗ ven đường là không gian công cộng có giá trị cao. Nếu miễn phí hoặc quá rẻ, nó luôn đầy, và người lái xe đi vòng tìm chỗ, góp thêm vào lưu lượng. Nhiều nghiên cứu đề xuất định giá đỗ ven đường sao cho luôn còn một vài chỗ trống trên mỗi đoạn phố, để giảm xe đi vòng tìm chỗ. Cách làm cụ thể phụ thuộc chính sách từng địa phương.
Áp dụng: kiểm tra bãi đỗ trong phương án của bạn
- Tính nhu cầu từng chức năng theo chỉ tiêu hiện hành, ghi nguồn.
- Lập bảng lấp đầy theo khung giờ như trên, với giả định hợp lý, để ra số chỗ dùng chung.
- Nhân số chỗ với diện tích thật mỗi chỗ theo dạng bãi (không dùng 12,5 m²).
- Đánh dấu vị trí mọi lối vào bãi trên mặt bằng; nếu có lối vào cắt qua phố chính, thử chuyển sang phố phụ.
- Kiểm tra mặt đứng tầng trệt: bao nhiêu phần trăm chiều dài là tường nhà xe hoặc cửa cuốn bãi đỗ?
Bước ba thường làm sinh viên giật mình, vì diện tích tầng hầm cần thiết lớn hơn dự kiến rất nhiều. Phát hiện ở giai đoạn phác thảo tốt hơn nhiều so với phát hiện khi đã triển khai mặt bằng kết cấu.
Câu hỏi thường gặp
Một chỗ đỗ ô tô cần bao nhiêu mét vuông?
Ô đỗ đơn thuần khoảng 12 đến 13 m², nhưng tính cả lối xe chạy thì bãi mặt đất cần khoảng 25 đến 30 m² mỗi chỗ, nhà xe hoặc tầng hầm khoảng 30 đến 40 m² sàn mỗi chỗ.
Đỗ xe dùng chung là gì?
Là việc các chức năng có giờ cao điểm khác nhau như văn phòng, nhà ở, thương mại dùng chung một bãi đỗ, nhờ đó tổng số chỗ cần thiết nhỏ hơn cộng dồn nhu cầu từng chức năng.
Vì sao bãi đỗ trước công trình không tốt cho đô thị?
Vì nó đẩy công trình lùi xa phố, làm mặt phố đứt quãng và buộc người đi bộ băng qua bãi xe để vào công trình. Bãi đỗ nên đặt phía sau hoặc dưới công trình.
Chỉ tiêu đỗ xe tối thiểu có nhược điểm gì?
Nó buộc mọi dự án xây một lượng chỗ đỗ nhất định dù nhu cầu thực tế thấp hơn, làm tăng chi phí xây dựng và giá nhà, và khuyến khích dùng ô tô. Nhiều nơi đang điều chỉnh chỉ tiêu ở khu gần giao thông công cộng.
Một chỗ đỗ xe máy cần bao nhiêu diện tích?
Khoảng 2 đến 3 m² mỗi xe tính cả lối đi, tuỳ cách bố trí đỗ vuông góc hay chéo.