Đứng trên một con đường liên xã cách trung tâm thành phố hai mươi cây số, bạn có thể thấy trong cùng một khung nhìn: ruộng lúa, dãy nhà ống bốn tầng mặt đường, một xưởng cơ khí trong sân nhà, một khu nhà trọ công nhân và đàn vịt dưới mương. Theo định nghĩa hành chính, nơi này có thể vẫn là nông thôn. Theo lối sống và kinh tế, nó đã là đô thị từ lâu.
Vùng chuyển tiếp này là nơi phần lớn tăng trưởng đô thị ở châu Á đang diễn ra, và cũng là nơi mô hình sách giáo khoa phương Tây giải thích kém nhất.
Chu kỳ phát triển đô thị theo giáo trình kinh điển
Mô hình phổ biến chia sự phát triển của một vùng đô thị thành các pha, dựa trên quan sát ở Bắc Mỹ và Tây Âu thế kỷ 20:
- Đô thị hoá: dân từ nông thôn dồn vào lõi, lõi tăng nhanh hơn vành ngoài.
- Ngoại ô hoá: nhờ ô tô và đường cao tốc, người có thu nhập khá dọn ra vành ngoài; vành ngoài tăng nhanh hơn lõi.
- Phi đô thị hoá: cả vùng đô thị mất dân sang các đô thị nhỏ và nông thôn.
- Tái đô thị hoá: lõi hồi phục nhờ tái phát triển, người trẻ và dịch vụ quay lại.
Mô hình này hữu ích như một ngôn ngữ chung, nhưng nó giả định hai điều không đúng ở nhiều nơi: rằng ngoại ô là khu dân cư thuần tuý, và rằng ranh giới giữa đô thị và nông thôn rõ ràng.
Vùng ven đô hỗn hợp: một mô hình khác cho châu Á
Từ những năm 1980, các nhà địa lý nghiên cứu Đông Nam Á và Đông Á mô tả một kiểu không gian riêng: những vùng nông nghiệp lúa nước đông dân nằm giữa các thành phố lớn, nơi hoạt động phi nông nghiệp đan xen dày đặc vào nông nghiệp mà không cần ai di cư vào thành phố. Trong tài liệu tiếng Anh, khái niệm này thường được gọi bằng thuật ngữ desakota, ghép từ hai chữ tiếng Indonesia nghĩa là “làng” và “thành phố”.
Đặc điểm nhận biết:
- Mật độ dân số nông thôn vốn đã cao trước khi đô thị hoá, do canh tác lúa nước cần nhiều lao động.
- Hộ gia đình đa nghề: một người làm công nhân, một người làm ruộng, một người buôn bán, thu nhập trộn lẫn.
- Đi lại bằng phương tiện hai bánh, linh hoạt, cho phép đi làm xa mà không cần chuyển nhà.
- Sử dụng đất xen kẽ ở mức từng thửa: xưởng cạnh ruộng, nhà trọ cạnh ao.
- Hạ tầng đi sau: đường làng gánh tải xe container, mương tưới gánh nước thải.
So sánh hai kiểu vành ngoài
| Tiêu chí | Ngoại ô kiểu Bắc Mỹ | Ven đô hỗn hợp kiểu châu Á |
|---|---|---|
| Người ở đó từ đâu đến | Dân thành phố dọn ra | Dân tại chỗ ở lại, cộng lao động nhập cư |
| Chức năng chính | Ở | Ở, sản xuất, nông nghiệp đan xen |
| Phương tiện | Ô tô cá nhân | Xe máy, xe đạp, xe tải nhỏ |
| Hình thái | Lô đất lớn, nhà đơn lập, đường cụt | Nhà bám đường, làng cũ phình ra, thửa ruộng xen kẹp |
| Vấn đề hạ tầng chính | Chi phí duy trì đường và ống trên diện rộng | Thoát nước, rác, ô nhiễm công nghiệp nhỏ lẫn khu ở |
Hình thái đặc trưng: nhà bám đường và làng phình
Hai kiểu tăng trưởng không gian hay gặp nhất ở vùng ven đô Việt Nam và các nước lân cận:
Phát triển dải theo đường
Khi một tuyến đường được nâng cấp, nhà ống mọc dọc hai bên, sâu vào bằng đúng chiều sâu một thửa. Phía sau vẫn là ruộng. Nhìn từ trên cao, đô thị có hình xương cá: những dải mỏng bám theo đường. Hệ quả là mặt tiền đường bị chiếm hết bởi lối ra vào, xe vào ra liên tục làm giảm năng lực thông hành, và đất phía sau bị kẹt không có lối tiếp cận.
Làng phình
Lõi làng cũ đông lên theo chiều đứng và lan ra các ao, vườn xung quanh. Ngõ giữ nguyên bề rộng một đến ba mét trong khi số nhà tăng gấp nhiều lần. Xe cứu hoả không vào được, đường ống cấp nước được kéo tạm theo ngõ, cống thoát chung với mương cũ.
Những điều quy hoạch hay làm sai ở vùng ven đô
- Vẽ trên nền trắng. Bản đồ quy hoạch đặt ô phố mới đều tăm tắp lên vùng đã có làng, có đường, có mồ mả, có mạng mương. Lúc triển khai, mọi thứ vướng.
- Coi làng là thứ cần xoá. Làng có cấu trúc xã hội, mạng lưới tương trợ, chợ, không gian cộng đồng. Nhiều phương án tốt giữ làng làm lõi và kết nối nó với khu mới.
- Bỏ qua mạng thuỷ lợi. Mương tưới, cống điều tiết của vùng nông nghiệp là hệ thoát nước thực tế. San lấp mà không thay thế bằng hệ tương đương thì ngập xuất hiện ở nơi trước đây không ngập.
- Lấy chỉ tiêu nội đô áp nguyên. Mật độ, bề rộng đường, tỷ lệ đất cây xanh của khu đô thị mới không thể áp nguyên vào làng hiện hữu; cần chỉ tiêu cải tạo riêng.
Áp dụng: khảo sát nhanh một xã ven đô
Nếu bạn làm đồ án hoặc nghiên cứu một khu vực chuyển tiếp, một buổi thực địa có cấu trúc như sau cho nhiều thông tin hơn một tuần đọc báo cáo:
- Đi dọc trục đường chính và đếm, trên mỗi đoạn 500 m, số nhà ở thuần, số nhà có kinh doanh tầng trệt, số xưởng, số nhà trọ.
- Rẽ vào ba ngõ bất kỳ, đo bề rộng ngõ bằng bước chân, ghi độ sâu tới ngõ cụt hoặc cánh đồng.
- Tìm điểm xả nước thải của cụm nhà: ra mương nào, mương chảy về đâu.
- Hỏi ba hộ: bao nhiêu người trong nhà, mỗi người làm gì, đi làm bằng gì, mất bao lâu.
- Chụp ảnh từ một điểm cao nếu có, để thấy tỷ lệ mái nhà và ruộng.
Kết quả khảo sát nên được tóm trong một sơ đồ mặt cắt ngang từ đường chính vào sâu trong làng, ghi chức năng từng dải. Sơ đồ đó sẽ cho thấy ngay chỗ nào cần mở đường nhánh, chỗ nào cần hệ thu gom nước thải, chỗ nào còn giữ được đất trống cho công trình công cộng.
Vùng ven đô là nơi quyết định hình dạng của thành phố hai mươi năm tới. Muốn làm quy hoạch ở đó cho đúng, hãy bắt đầu bằng việc đọc cái đang có trước khi vẽ cái sẽ có.
Câu hỏi thường gặp
Vùng ven đô là gì?
Là khu vực chuyển tiếp giữa đô thị và nông thôn, nơi hoạt động phi nông nghiệp, nhà ở đô thị và nông nghiệp đan xen nhau. Ranh giới hành chính thường không phản ánh đúng mức độ đô thị hoá thực tế ở đây.
Desakota nghĩa là gì?
Desakota là thuật ngữ trong tài liệu địa lý đô thị, ghép từ hai chữ tiếng Indonesia nghĩa là làng và thành phố, dùng để mô tả vùng nông nghiệp đông dân ở châu Á nơi hoạt động đô thị và nông thôn trộn lẫn.
Ngoại ô hoá khác đô thị hoá ven đô ở châu Á thế nào?
Ngoại ô hoá kiểu phương Tây là dân thành phố dọn ra khu dân cư thuần tuý và đi lại bằng ô tô. Ven đô châu Á thường là dân tại chỗ ở lại, sản xuất và nông nghiệp đan xen, đi lại bằng xe máy.
Vì sao vùng ven đô hay bị ngập sau khi đô thị hoá?
Vì mạng mương và ao hồ nông nghiệp vốn làm nhiệm vụ trữ và thoát nước bị san lấp mà không được thay bằng hệ thoát nước tương đương, trong khi bề mặt bê tông làm nước chảy tràn nhanh hơn.
Làm đồ án ở khu ven đô nên bắt đầu từ đâu?
Bắt đầu bằng khảo sát thực địa: đếm chức năng dọc trục đường, đo ngõ, tìm hướng thoát nước, phỏng vấn vài hộ. Bản đồ hiện trạng chi tiết quan trọng hơn mọi mô hình lý thuyết.